Đối với hạ tầng công nghệ thông tin hiện nay, thì máy chủ không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp, nhà quản trị, do vậy để có thể lựa chọn cho doanh nghiệp, đơn vị của mình một hệ thống máy chủ (server) hoạt động ổn định – đáp ứng yêu cầu – tài chính phù hợp – khả năng kết nối và mở rộng tốt đang là một thách thức với mỗi doanh nghiệp khi lựa chọn hệ thống máy chủ cho mình. Để được tư vấn dịch vụ và báo giá hệ thống máy chủ nào quý khách có nhu cầu vui lòng gọi: (04). 3537 9388 – Hotline: 0983.600.878 – 094.268.1717 (24/7)

Tiêu chí cho hệ thống máy chủ:

Hệ thống phải có mức độ sẵn sàng và khả năng dự phòng cao.

Hệ thống được thiết kế với khả năng mềm dẻo, sẵn sàng cho việc mở rộng cả về qui mô, số lượng và chất lượng của các dịch vụ cần cung cấp cho người sử dụng.

1. Máy chủ cơ sở dữ liệu

Hệ cơ sở dữ liệu trong Trung tâm tích hợp dữ liệu là các hệ quản trị cơ sở dữ liệu có quan hệ (RDBMS) là trung tâm lưu trữ tất cả các thông tin trong tất cả các ứng dụng chuyên môn, các dữ liệu về giao dịch điện tử, ngoài ra còn là kho lưu trữ dữ liệu của ngành nên phải là các hệ thống lớn của các hãng tên tuổi và có khả năng hỗ trợ mạnh tại Việt Nam như Oracle, Infomix, IBM hay Microsoft. Vì dữ liệu tại trung tâm rất lớn mà đều là các thông tin quan trọng, liên quan đến nhiều thành phần mạng nên Hệ thống sẽ được kết nối với tủ đĩa Backup ngoài, đảm bảo tính sẵn sàng cao nhất và khả năng mất dữ liệu là tối thiểu, gần như bằng không.Lắp đặt máy chủ

Chúng ta đều biết các máy chủ là trái tim của của mạng máy tính, nếu máy chủ mạng hỏng, hoạt động của hệ thống sẽ bị ngưng trệ. Điều đáng tiếc là dù các hãng sản xuất đã cố gắng làm mọi cách để nâng cao chất lượng của thiết bị, nhưng những hỏng hóc đối với các thiết bị mạng nói chung và các máy chủ nói riêng là điều không thể tránh khỏi. Do vậy, vấn đề đặt ra là cần có một giải pháp để đảm bảo cho hệ thống vẫn hoạt động tốt ngay cả khi có sự cố xảy ra đối với máy chủ mạng, và công nghệ clustering (bó) là câu trả lời cho vấn đề này.

2. Máy chủ quản lý tên miền

DNS là một hệ thống cơ sở dữ liệu phân tán có kiến trúc được sử dụng bởi các ứng dụng TCP/IP để phân giải giữa tên các máy tính cụ thể trên mạng với địa chỉ IP tương ứng của chúng, đồng thời nó còn được sử dụng để cung cấp thông tin định tuyến cho hệ thống thư điện tử. Mỗi tổ chức (Chính phủ, tổ chức cơ quan, trường đại học, các công ty và các chi nhánh công ty) đều có thể thiết lập và duy trì một hệ thống cơ sở dữ liệu DNS riêng của mình để cung cấp thông tin cho các ứng dụng Client-Server trong mạng nội bộ, giữa các mạng, và qua Internet.

Mô hình hoạt động DNS

DNS cung cấp giao thức để các máy tính trên mạng có thể liên lạc với nhau qua thông qua tên. Khi một máy trạm cần liên lạc thông tin với một máy tính khác trên mạng thông qua tên của máy đó, nó sẽ gửi yêu cầu phân giải (DNS request) tới DNS Server. DNS Server có lưu trữ hệ thống cơ sở dữ liệu phân tán DNS, trong đó có chứa các thông tin về tên các máy, địa chỉ IP (v4,v6), và các thông tin về nhóm các máy dưới một sự quản trị chung (Domain).

DNS Server sẽ sử dụng tên máy yêu cầu phân giải để xác định địa chỉ IP tương ứng và gửi trả lời tới máy trạm có yêu cầu, hoặc xác định tên máy cho những địa chỉ IP. Nếu tên của máy không có trong cơ sở dữ liệu của DNS Server, DNS Server sẽ tiếp tục yêu cầu DNS tới các DNS Server cấp cao hơn. Quá trình này tiếp diễn cho tới khi tìm được DNS Server nơi lưu trữ thông tin về máy đích.

Để đảm bảo được tính hệ thống, dễ dàng cho việc tìm kiếm và quản lý thông tin  DNS, các domain và các DNS Server tương ứng được xây dựng theo kiến trúc phân tầng theo qui định chung trên toàn thế giới, theo các quốc gia, các tổ chức, tập đoàn công ty, trường đại học.

3. Máy chủ quản lý thư điện tử

Dịch vụ trao đổi thư điện tử cùng với dịch vụ Web là một trong những nhu cầu đầu tiên và thường xuyên đối với người sử dụng mạng.

Hệ thống thư điện tử được xây dựng trên cơ sở nền tảng là của công nghệ Internet, do vậy có thể duy trì một cấu trúc đồng nhất cả bên trong cũng như bên ngoài khi phải tương tác với các đối tác. Toàn bộ hệ thống không bị hạn chế bởi chuẩn riêng của nhà sản xuất nào mà được phát triển trên các chuẩn Internet phổ biến đã được kiểm nghiệm thực tế như:

LDAP: Cung cấp khả năng truy nhập tới cơ sở dữ liệu thư mục giúp hệ thống thư điển tử trở nên an toàn và chính xác hơn.

ESMTP: Một chuẩn truyền thư cho phép việc trao đổi thư và các thông tin trạng thái được tiến hành một cách nhanh chóng.

MIME: Đây là chuẩn thư điện tử cho phép hệ thống có thể tương tác và trao đổi các thư điện tử với rất nhiều hệ thống khác nhau

HTML: Cung cấp khả năng truy nhập thông qua một trong những ngôn ngữ Internet phổ biến nhất dưới dạng WEB

IMAP4/POP3: Cho phép người dùng có thể có nhiều lựa chọn trong việc truy nhập hộp thư của mình.

SASL: Đây là module mở rộng cho phép tăng cường khả năng xác thực chính xác và có độ an toàn cao.

4. Hệ thống máy chủ dịch vụ WEB server

Các ứng dụng Web-based ngày càng phổ biến và đối các đơn vị phát triển trong Bộ thì đây cũng là xu hướng chủ yếu trong các lĩnh vực phát triển các ứng dụng chuyên môn do khả năng triển khai đơn giản, tính linh hoạt trong ứng dụng. Do đó, tại trung tâm tích hợp dữ liệu, các máy chủ dịch vụ Web phải có hiệu suất cao hỗ trợ nhiều tính năng phong phú, giảm thiểu rủi ro an toàn hệ thống nhờ việc giám sát mã nội bộ cũng như mã ngang hàng (peer-based code) đồng thời cung cấp cơ chế kiểm soát truy nhập và xác thực thống nhất thông qua việc hỗ trợ các chuẩn bảo mật mới nhất ở mức transport. Hệ thống được phát triển trên cơ sở nền ràng ứng dụng Java và các máy ảo Java hiệu suất cao song vẫn cho phép người sử dụng tuỳ biến và phát triển một cách linh hoạt. Ngoài ra với khả năng quản lý đơn giản và dễ dàng đối với các website phức tạp hỗ trợ tới hàng triệu người truy nhập thông qua cơ chế phân quyền quản trị (delegated administration), tính năng quản lý cụm máy chủ web tích hợp sẵn, quản lý máy server ảo, giám sát và quản lý thông qua SNMP và cho phép việc đồng bộ hiệu quả cấu hình giữa các máy chủ với nhau. Hệ thống cũng hỗ trợ môi trường hosting với số lượng lớn các máy chủ ảo với khả năng mở rộng và nâng cấp dễ dàng song vẫn đảm bảo thời gian phục vụ (uptime) là tối đa thông qua các quá trình giảm sát các tiến trình/ứng dụng trên hệ thống, tự động thực hiện chuyển đổi khi có sự cố xảy ra đồng thời với khả năng tái cấu hình động và quay vòng logfile. Năng lực của hệ thống có thể hỗ trợ tới hàng ngàn kết nối đồng thời nhờ khả năng đa xử lý phát triển và kiến trúc siêu luồng có khả năng mở rộng cao. Đặc biệt hệ thống có thể hỗ trợ việc mã hoá cứng SSL thông qua các card mạng chuyên dụng giúp gia tăng tốc độ xử lý, giảm thiểu thời gian chờ đợi của người sử dụng khi cần duyệt các trang web có yêu cầu bảo mật cao